Chủ Nhật, ngày 18 tháng 8 năm 2013

Các loại chấn thương trong thể hình

Môn thể hình là một môn TDTT hiện nay đang rất được ưa chuộng vì vừa tăng cường sức khỏe vừa tạo thân hình đẹp lại vừa có sự thi đua trong các kì thi trong nước và quốc tế. Không chỉ nam giới mà còn nữ giới đang ngày càng tham gia tập luyện khá nhiều. Đây là môn không va chạm nên tỉ lệ chấn thương tương đối thấp tuy nhiên không phải là hoàn toàn vô hại nếu không được chỉ dẫn tập luyện đúng cách. Do vậy cần phải biết 1 số vấn đề biến động bệnh lý trong môn thể hình.
Sinh bệnh lý trong thể hình
Bài viết này sẽ giúp bạn:
  • Nắm được vai trò lợi ích của môn thể dục thể hình, nguồn gốc lịch sử phát triển
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ bắp.
  • Các sinh bệnh lý phát sinh trong quá trình tập luyện như: mỏi cơ, vọp bẻ.
  • Các chấn thương thường gặp trong bộ môn thể dục thể hình

i) Đại cươngVề mục lục

Môn thể hình là một môn TDTT hiện nay đang rất được ưa chuộng vì vừa tăng cường sức khỏe vừa tạo thân hình đẹp lại vừa có sự thi đua trong các kì thi trong nước và quốc tế. Không chỉ nam giới mà còn nữ giới đang ngày càng tham gia tập luyện khá nhiều. Đây là môn không va chạm nên tỉ lệ chấn thương tương đối thấp tuy nhiên không phải là hoàn toàn vô hại nếu không được chỉ dẫn tập luyện đúng cách. Do vậy cần phải biết 1 số vấn đề biến động bệnh lý trong môn thể hình.

ii) Lịch sử môn thể hìnhVề mục lục

Đầu tiên là môn cử tạ xưa kia trong các kì thi Olympic , người ta thi nhau bằng cách nâng những tảng đá to. Đến cuối thế kỉ XIX thì môn cử tạ thể hình được tổ chức một cách bài bản với kì thi lần đầu tiên tại Monico, Picadilly, Luân Đôn vào ngày 28/3/1891 và môn cử tạ được chính thức tổ chức thi vô địch vào ngày 19-20/7/1898 tại Vienna thủ đô Áo. Liên đoàn cử tạ quốc tế được thành lập năm 1920. Từ đó có những cuộc thi quốc tế đều đặn, môn thể hình được thành lập sau hơn nhờ mục tiêu ngoài sức mạnh cần phải có vóc dáng đẹp và ngày nay môn thể hình đã được ưa chuộng trên toàn thế giới.

iii) Ảnh hưởng của sự tập luyệnVề mục lục

Sự tập luyện luôn ảnh hưởng đến các cơ. Người ta chia tập luyện ra làm 2 loại: loại ngắn hạn và dài hạn.
Trong trường hợp ngắn hạn là từ 3 tháng trở lại. Sự tập luyện ngắn hạn tạo cho các cơ sức mạnh và làm giảm sự mệt nhọc của các cơ đối cới luyện tập sức mạnh.
Tập thể lực mỗi ngày tập co thắt cơ 10 lần, mỗi lần 20 cái, với lực cơ 8%-40% tối đa, nghỉ 1 phút giữa các hiệp tập thì cho thấy lực cơ tăng lên 50% và thể tích cơ tăng lên từ 10%-20%, sự dẫn truyền thần kinh cũng được khá hơn. Các cơ liên đới tuy không được tập luyện cũng có sức tăng tiến 20%, tuy nhiên không có to ra.
Sợi cơ thường được tăng nhiều là loại cơ loại 2, tập sức bền như chạy xe đạp liên tục trong 8 tuần thì sẽ làm tăng tuần hoàn ở các cơ và làm tăng biến dưỡng hiếu khí, làm tăng acid lactic trong tế bào, làm tăng các lượng men ở trong tế bào. Sự làm ấm trước khi tập sức bền trong vòng 5 phút làm cho số lượng oxy tăng lên từ 30% - 50%.
Luôn luôn tập luyện sức bền phải đi trước sự tập luyện sức mạnh vì khi tập luyện sức bền lưu lượng máu sẽ chuẩn bị cho tập luyện sức mạnh giống như làm ấm nhẹ.
Tập dài hạn dành cho những VĐV chuyên nghiệp cấp cao. Với sự tập luyện lâu dài, các VĐV chạy nước rút thì các sợi cơ nhanh loại 2 chiếm 90% trong khi đó đối với người bình thường 50% ở các cơ đùi và các sợi cơ của những VĐV cấp cao to hơn nhiều so với người bình thường.

iv) Các yếu tố ảnh hưởng đến sức cơVề mục lục

iv.1) Yếu tố thuộc về cơVề mục lục
  • Cơ càng to lực càng mạnh nhất là các cơ có sợi cơ loại 2
  • Lực cơ luôn tỉ lệ thuận với tình trạng lớn nhỏ của sợi cơ đó. Tuy nhiên đối với 1 đứa trẻ từ 6 tuổi trở lên thì số sợi cơ không còn tăng lên về số lượng mà chỉ có vấn đề tăng theo thể tích mà thôi.
  • Lực cơ đạt đến tối đa khi khớp ở trong tư thế nửa gập nửa duỗi, sức cơ tăng khi có sự đồng bộ với hệ thần kinh khi đang hoạt động, do đó sự tập luyện lâu dài đưa đến sự thuần thục nhuần nhuyễn sẽ làm tăng sức cơ hơn.
iv.2) Các yếu tố môi trườngVề mục lục
Sức cơ bị giảm khi nhiệt độ xuống thấp, khi bị mất ngủ và khi tuổi càng cao, các biến động sinh lý.

v) Sinh bệnh lýVề mục lục

v.1) Sự mỏi cơVề mục lục
Sự mỏi cơ xảy ra sau một thời gian tập luyện mà các cơ không đạt được thành tích như trước nữa, lực cơ giảm đi và thời gian để nghỉ dài ra.
Sự mỏi của các cơ loại chậm thường do các bài tập luyện kéo dài quá lâu làm cho các cơ không theo kịp, các cơ đó bị mất rất nhiều năng lượng, không còn glycogen. Axit lactic không phải là hậu quả của sự mỏi cơ trong trường hợp này vì sau 30 phút thì lượng axit lactic không còn tăng thêm nữa mà sự mỏi cơ xảy ra sau 3h nghĩa là sau đó rất lâu. Muốn phòng ngừa cần có đường gluco và cần có oxy đầy đủ để làm giảm sự mệt mỏi trên
Trong khi đó mỏi các cơ loại nhanh (là các cơ cần vận tốc tiêu năng lượng không cần oxy, hệ thống này đưa ra là chất thải axit lactic) là do axit lactic tăng nhiều ở trong cơ thời gian từ 10s-60s, sự tăng axit lactic làm giảm hiệu lực của canxi, làm giảm sức cơ, và làm giảm tác dụng của các men ở trong cơ là PFK.
v.2) Sự vọp bẻVề mục lục
Vọp bẻ là tình trạng co thắt tự động đau của một hay một số nhóm cơ. Vọp bẻ thường xảy ra trong khi tập hay sau gắng sức, hoặc vào ban đêm theo sau 1 sự tập luyện nào đó thường không có dấu hiệu báo trước.
Các nguyên nhân của vọp bẻ:
a. Tập sai kỹ thuật hay các dụng cụ không phù hợp: vợt, gậy chẳng hạn làm cho các cơ bị đau. Muốn tránh thì phải xem xét kỹ các động tác cùng các dụng cụ đã sử dụng.
b. Hơi thở nhanh tạo nên tình trạng xuống thấp CO2 làm thay đổi PH. Muốn tránh trường hợp này cần phải tránh những động tác vô ích không cần thiết.
c. Do thiếu khởi động. Người VĐV cần phải được khởi động đủ ấm để đưa máu đến cơ để cho cơ có thể chịu được những áp lực khi vận động. HLV cần phải để ý để giúp cho VĐV làm ấm đúng, giãn cơ đủ trước khi vào tập luyện.
d. Các nguyên nhân khác gồm có: mất nước, thiếu đường, axit lactic dư. Muốn tránh các nguyên nhân trên cần phải tập luyện đúng cách, ăn uống đầy đủ các dưỡng chất cần thiết như muối khoáng và vitamin.
e. Một nguyên nhân khác nữa là dùng các vật liệu bó sát chân như giày, vớ chật làm cho cơ bị thiếu máu. Do đó cần phải chú ý để đặt lại tình trạng tuần hoàn trong máu kế đến nữa là sự kéo dãn mạnh một cơ có thể tạo nên một biến đổi phản xạ nhanh chóng. Đó là trường hợp các nguyên nhân trong khi đang tập luyên và vọp bẻ sau khi tập luyện, sau khi gắng sức. Sauk hi gắng sức thường có rối loạn điện nước và điện giải ở trong cơ nhất là thiếu Mg và K. Một số bệnh lý có thể đưa đến tình trạng đó nếu không được theo dõi kỹ.
Hướng xử lí của vọp bẻ là người VĐV bị vọp bẻ được cho nằm dài, thở đều và các cơ co rút được kéo dãn ra từ từ trong vài phút, nếu không có tác dụng thì có thể đắp lạnh rồi kéo dãn, uống thêm đương, muối, Vitamin B. Các thủ thuật trên không kéo dài quá 5 phút. Sự tập luyện trở lại nên được diễn ra từ từ.

vi) Chấn thương và các bệnh lý liên quanVề mục lục

vi.1) Đau vai đònVề mục lục
Thường là do những biến động của khớp cùng đòn bên ngoài, từ vòng ngaoif của xương đòn bị thoái hóa. Nguyên nhân là do các cơ to ra chèn ép các mạch máu đưa đến xương đòn làm giảm tuần hoàn. Các cử động dẫn đến tình trạng trên là các cử động đưa tay lên trên khỏi đầu, sự điều trị thường phải nghỉ một cách lâu dài. Do đó có nhiều VĐV không thích.
vi.2) Đau lưngVề mục lục
Thường là do các cơ của vùng thắt lưng và giữa lưng bị kéo dãn khi đẩy tạ mạnh, một số trường hợp do cột sống lưng bị hở. Tuy nhiên nguyên nhân này không phải do tập luyện mà do di truyền.
vi.3) Cổ tayVề mục lục
Tình trạng cổ tay thường bị đau ở mặt lưng đa số là do các cử động duỗi quá mức khi đẩy tạ nằm. Điều trị bằng cách nghỉ ngơi, đặt nẹp và dùng thuốc giảm đau.
vi.4) Đau vaiVề mục lục
Đau vai thường có thể do các nón xoay của vùng vai bị rách hoặc là các gân cơ bị đứt, các cử động đưa tay ra trước hoặc lên trên thường làm cho các cơ đó hoạt động rất nhiều, nhất là khi phải đẩy 1 lực tạ rất lớn. Điều trị bằng cách nghỉ ngơi, đắp lạnh, dùng thuốc giảm đau và tập luyện trở lại nhẹ nhàng hơn, chống những lực quá lớn.
vi.5) Quá tảiVề mục lục
Các biến động bệnh lý khác bao gồm sự quá tải. Làm thế nào để biết sự vận động là quá tải?
  • Cảm thấy cơ rất đau hoặc mỏi 2-3 ngày sau khi tập.
  • Huyết áp tăng lên.
  • Lượng vận động giảm xuống.
  • Dễ bị lạnh, dễ bị yếu.
  • Ngủ khó, ăn ít.
  • Giảm cân.
vi.6) Nhức đầuVề mục lục
Một biến động khác thường xảy ra là nhức đầu, thường người tập thể hình không biết giữ hơi thở, tập hơi thở cho đúng thì bị nhức ở phía sau ót, ở trên cổ và 2 bên màng tang nhất là khi đẩy tạ. Đẩy tạ mà nín thở sẽ là nguyên nhân làm tăng áp lực trong nội sọ và cần phải tránh.

vii) Kết luậnVề mục lục

Đó là một số biến động về sinh lý và bệnh lý trong thể hình, do đó môn thể hình là một môn không có sự va chamjvaf sự biến động về bệnh lý, sinh lý thường không rõ rang, cần phải tránh sự quá tải, tập luyện cẩn thận, khởi động đúng cách để tránh nguy hại về sức khỏe và đạt hiệu quả cao trong tập luyện.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét